(DĐDN) – Việt Nam là đất nước nông nghiệp và có thể về lâu dài chúng ta vẫn là nước nông nghiệp trong quan hệ phân công lao động quốc tế; nhưng chúng ta cần trở thành nước nông nghiệp hiện đại, tạo ra được sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và được các nước trên thế giới đón nhận.

nong-nghie

Cần phải quan tâm áp dụng khoa học vào sản xuất nông nghiệp

Theo thống kê dân số thế giới, tính đến đầu năm 2016, dân số Việt Nam có hơn 94 triệu người, và đứng thứ 14 trong số các quốc gia đông dân nhất thế giới. Tuy là đất nước đông dân, nhưng chúng ta có đến 70 % dân số là nông dân. Và điều đó cho thấy sau hàng thế kỷ phát triển thì chúng ta vẫn là “đất nước nông nghiệp”.

Việt Nam được coi là một trong những nước xuất khẩu nhiều gạo, cà phê, chè, cao su, trái cây; nhưng việc xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của chúng ta không ổn định cả về sản lượng và giá trị, luôn bị than phiền và ép giá vì đa số sản phẩm không đạt tiêu chuẩn (VietGap, GlobalGap).

Việc không đạt tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp cả về sản lượng và chất lượng làm cho năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam rất thấp, không đủ sức vào các thị trường lớn trên thế giới, không đủ sức cạnh tranh ngay cả với nền nông nghiệp của các nước láng giềng trong khu vực Asean như Thái Lan, Campuchia. Trong tương lai gần, khi kinh tế Việt Nam hội nhập đầy đủ hơn với nền kinh tế thế giới, khi các Hiệp định thương mại FTA, WTO, TPP… có hiệu lực thực hiện, thì chắc chắn nền nông nghiệp của chúng ta sẽ càng gặp nhiều khó khăn hơn để tồn tại và phát triển.

Để sản xuất nông nghiệp hiện đại, không mang tính manh mún, thời vụ; để sản xuất nông nghiệp tạo ra sản phẩm mang tính hàng hóa với sản lượng lớn, chất lượng ổn định, đủ sức cạnh tranh với các nền nông nghiệp khác; thì người sản xuất nông nghiệp phải có đủ các điều kiện sau: Xác định mục tiêu, sản phẩm nông nghiệp định sản xuất phải đúng, phải phù hợp với điều kiện canh tác của từng khu vực dựa trên truyền thống canh tác, điều kiện tự nhiên về thổ nhưỡng, khí hậu và phải dựa trên quan hệ cung – cầu của thị trường; Phải có quỹ đất đủ lớn, thời hạn sử dụng đất phải lâu dài, ổn định phù hợp với quy mô đầu tư sản xuất sản phẩm nông nghiệp mà mình định sản xuất; Có nguồn nước phục vụ sản xuất đủ và sạch; Áp dụng triệt để khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp từ khâu chọn giống đến chăm sóc, thu hoạch, bảo quản; Áp dụng mô hình quản lý phù hợp với quy mô, trình độ sản xuất; Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và lưu thông phân phối để tạo ra chuỗi giá trị sản phẩm từ đầu vào của sản xuất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi…), đến đầu ra là thị trường tiêu thụ sản phẩm…

Có được những điều kiện sản xuất nông nghiệp nêu trên, nói thì dễ nhưng bắt tay vào thực tế sản xuất mới thấy nhiều bất cập, nhiều rào cản mà nếu chúng ta không mạnh dạn làm cuộc cách mạng trong nông nghiệp để tái cấu trúc lại nông nghiệp thì không thể nào có được đầy đủ các điều kiện này.

Cụ thể, ngoài việc chạy theo phong trào người canh tác còn phải sản xuất sản phẩm nông nghiệp dựa trên quy định của pháp luật về đất đai. Để đảm bảo duy trì diện tích đất trồng lúa, Điều 134 Luật Đất đai 2013 quy định những cá nhân, hộ gia đình được cấp “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài sản gắn liền với đất”, mà trên đó mục đích sử dụng đất ghi là “đất lúa”, thì dù cho thửa đất đó có là đất nông nghiệp xen lẫn đất ở trong đô thị, đất nông nghiệp khác, đất đã bị phèn mặn không thể trồng lúa được…thì người chủ sử dụng đất vẫn chỉ được trồng một thứ cây duy nhất trên đó là “cây lúa”, mà không được chuyển sang mục đích sản xuất nông nghiệp khác nếu không muốn bị cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Vấn đề trên cho thấy, nếu người sản xuất nông nghiệp không xác định được đúng mục tiêu sản xuất, xác định đúng sản phẩm sản xuất phù hợp với từng vùng đất, với từng thời điểm, với sự biến đổi của môi trường canh tác thì chắc chắn sẽ phải trả giá rất đắt. Để giúp người sản xuất nông nghiệp có thể nhanh chóng chuyển đồi được vật nuôi, cây trồng thích hợp, thì phá luật cần thiết phải điều chỉnh những quy định “cứng” về quản lý đất đai, phải bỏ đi những quy định mang tính trói buộc mục tiêu sử dụng đất, và thay vào đó là những quy định mang tính quy hoạch định hướng vật nuôi cây trồng phu hợp với vùng sản xuất.

Bên cạnh đó, quy định pháp luật về quản lý mục đích sử dụng đất nên quy định “mở”, theo hướng tạo thuận lợi cho người sử dụng đất có thể nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng, linh hoạt trong sử dụng đất phù hợp với yêu cầu thị trường, phù hợp với điều kiện sinh trưởng của vật nuôi cây trồng, phù hợp với biến đổi của môi trường canh tác trong từng thời điểm nhất định.

Chúng ta cần phải quan tâm áp dụng khoa học vào sản xuất nông nghiệp ngay từ khâu chọn giống đến chăm sóc, thu hoạch, bảo quản. Có áp dụng khoa học kỹ thuật chúng ta mới lựa chọn được giống tốt, cho năng xuất cao; mới xây dựng được quy trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản để kiểm soát chất lượng và chi phí sản xuất. Nhà nước cần hỗ trợ người sản xuất nông nghiệp có thể tiếp cận được với các nguồn vốn bằng cách tạo điểu kiện hỗ trợ người sản xuất tiếp cận với nhà đầu tư nước ngoài, quỹ tài chính; xây dựng chính sách để người nông dân có thể vay được vốn sản xuất nông nghiệp của ngân hàng với hình thức “tín chấp”. Không có vốn sản xuất thì cũng giống như “đi cày mà không có trâu” vậy.

Một vấn đề nữa là nông nghiệp Việt Nam đang trên đà phát triển và hội nhập, đang chuyển dịch từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa với quy mô sản xuất ngày càng lớn, tích tụ đất đai ngày càng tăng; do đó, việc sản xuất cá thể kiểu “tiểu nông” sẽ không còn phù hợp nữa mà cần thay vào đó là các mô hình quản lý phù hợp với tính chất và quy mô, trình độ sản xuất.

Từ nhận thức như trên xét thấy cần phải có sự đổi mới tư duy về quản lý đất đai, về vai trò vị trí của kinh tế nông nghiệp, về nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp, quản lý sản xuất và chất lượng sản phẩm; để từ đó thể chế hóa những vấn đề này vào pháp luật, chính sách nhằm tạo tiền để, thuận lợi, phù hợp cho sự phát triển của nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

ThS NGUYỄN HỮU TRÍ