Doanh nhân Nguyễn Hữu Trí bên vườn chanh rộng 13ha tại Long An.

“Đi ngược” sẽ không thể cạnh tranh

– Rõ ràng đây là bài toán khó giải trong ngành nông nghiệp Việt Nam khiến người nông dân Việt vẫn mãi nhọc nhằn, thưa ông?

Đúng vậy! Nông nghiệp của chúng ta không sạch trong khi chúng ta đổ rất nhiều chi phí về phân bón, cây giống, công sức để trồng ra được 1 sản phẩm. Nếu một người nông dân thu hoạch không bán được sản phẩm thì người ta sẽ mất 1 cơ nghiệp vì tôi làm nông nghiệp tôi biết. 1ha trồng 1 cây ăn trái cũng mất vài trăm triệu. Đây là tài sản lớn. Chính vì vậy tôi đã nghĩ cách phải tìm được đường cho trái cây Việt ra nước ngoài.

– Con đường đó như thế nào, thưa ông?

Tôi đi tìm hiểu, hỏi thăm các bạn người nước ngoài và họ đang có cách hiểu không chính xác về trái cây của Việt Nam. Ví dụ, chúng ta chạy theo sản lượng nên chọn giống không tốt. Điển hình như việc chúng ta nhập ồ ạt giống của nước ngoài về cho năng suất rất cao như xoài Đài Loan… nhưng không bán được. Vì ta không thể đem trái cây của thế giới bán lại nước họ và bán ra thế giới, trong khi nhu cầu tiêu thụ ở Việt Nam không nhiều. Đây là con đường đi ngược, ta không thể cạnh tranh được.

– Con đường “đi xuôi” theo tôi hiểu là ông chỉ tận dụng các sản phẩm trái cây đặc sản của Việt Nam?

Các bạn người nước ngoài nói với tôi rằng, Việt Nam có một thứ mà nhiều trái cây ở các nước không có được là hương và vị của trái. Điển hình như trái sầu riêng, xoài cát, chanh bông tím… hương và vị rất đặc biệt và được thế giới rất ưa chuộng. Đây là những lợi thế của Việt Nam.

Còn nếu đem trái cây tươi ra nước ngoài thì trái cây của Việt Nam rất khó có thể qua được vòng kiểm duyệt chất lượng. Nguyên nhân bởi trái cây Việt Nam sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, nhiều thuốc bảo vệ thực vật, phân bón. Với lối sản xuất chạy theo lợi nhuận trước mắt, về lâu dài sẽ làm hỏng nền nông nghiệp Việt Nam.
Chính điều này đã thúc tôi làm bằng được sản phẩm sạch để tiêu thụ trên thị trường cũng như vươn ra thế giới.

– Ông đã bắt đầu bước vào lĩnh vực nông nghiệp sạch như thế nào?

Sau nhiều năm ấp ủ, tôi bắt đầu bằng trang trại chanh, tắc rộng 13 ha huyện Bến Lức, tỉnh Long An, mỗi tháng cung ứng 15 tấn quả. Dự kiến sẽ tăng sản lượng bình quân lên 40 tấn/ha/năm vào năm tới. Bên cạnh đó còn liên kết với các hợp tác xã trồng chanh, chanh dây, xoài, sầu riêng, bơ… lớn trên các vùng chuyên canh của Nam Bộ, Tây Nguyên. Các sản phẩm này được kiểm soát từ giống cây đến thì hình thành sản phẩm.

Đó là phần nguyên liệu. Về công nghệ chế biến, qua khảo sát ở nước ngoài và các chuyên gia nông nghiệp tôi cũng được biết lý do khiến trái cây mất mùi thơm là do sấy nhiệt đã khiến trái cây “chín”. Nếu không còn hương thơm đặc trưng, hoa quả sẽ “mất điểm”.

Khách nước ngoài ưa chuộng sản phẩm tự nhiên, an toàn, không hóa chất độc hại và phải giữ được hương vị đặc trưng của xoài, thanh long, chanh leo, sầu riêng, dưa hấu… mà không cần bổ sung hương liệu. Do vậy, tôi áp dụng công nghệ phun sấy khô nên giữ được 100% hương vị của trái cây tươi. Đây là điều mà rất ít doanh nghiệp Việt Nam làm được tính đến thời điểm này.

Cần nhà nước làm “bệ đỡ”

– Được biết, giai đoạn đầu đưa sản phẩm ra thế giới, Trí Việt đã gặp không ít khó khăn?

Giai đoạn đầu chúng tôi cũng gặp nhiều khó khăn. Bởi sản phẩm mới nên đối tác nước ngoài bỡ ngỡ, chưa hiểu sản phẩm của mình sản xuất có đúng tiêu chuẩn của họ không. Nhưng khi tôi mời họ tham quan công nghệ chế biến sấy phun và quá trình sản xuất nguyên liệu thì họ gật đầu luôn.

p/Sản phẩm TRIVIE tại Hội chợ giới thiệubr class=

Sản phẩm TRIVIE tại Hội chợ giới thiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam sang Ấn Độ

Sản phẩm của chúng tôi được sấy ở nhiệt độ cao một thời gian ngắn nên các chất dinh dưỡng không bị mất nhiều, độ ẩm 5 – 8% nên nấm mốc không phát triển được, do vậy tuyệt đối không phải dùng chất bảo quản.
Tuy mới ra mắt, nhưng các sản phẩm của chúng tôi đã có mặt tại hầu khắp các tỉnh thành Việt Nam. Ngoài ra, nhiều đối tác nước ngoài đã chủ động tìm đến TRIVIE như: Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Singarpore, Ấn Độ, Ukraine, Bỉ, Nga, Mỹ, Pháp, Canada… Bột trái cây TRIVIE cũng đã được nhiều doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước quan tâm sử dụng làm nguyên liệu chế biến các sản phẩm của mình.

– Các cụ có câu: “Tiền nào của nấy”. Với sản phẩm như ông nói, chắc chắn giá sẽ không thấp?

Giá chúng tôi đưa ra không cao trên thị trường. 1kg bột chanh chưa tới 500.000 đồng nhưng có thể sử dụng được rất nhiều việc. So với giá của thị trường thế giới chỉ bằng 1/3 – 1/4. Trong khi để chế biến được 1 tấn bột thanh long, phải cần đến hàng chục tấn thanh long tươi.

Với việc chế biến nguyên liệu thô cũng làm sức tiêu thụ sản phẩm cho nông dân tăng gấp hàng trăm, thậm chí hàng nghìn lần.
Còn để kiểm tra nguồn gốc sản phẩm khách hàng có thể tra trực tiếp mã hàng trên sản phẩm.

– Nhưng để tạo dựng được thương hiệu nông sản Việt trên toàn cầu, tạo đầu ra ổn định, bền vững cho nông dân, chỉ nỗ lực của một doanh nghiệp như ông, không thể đủ?

Chắc chắn rồi. Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ cho doanh nghiệp. Nếu được nhà nước hỗ trợ thiết thực, hiệu quả, cùng với các chính sách như tích tụ ruộng đất để sản xuất nguyên liệu nông sản ở quy mô công nghiêp, ưu đãi thuế, vốn đầu tư cho doanh nghiệp xây dựng thương hiệu nông sản xuất khẩu… chắc chắn, “con đường” đưa thương hiệu nông sản Việt ra nước ngoài sẽ thuận lợi hơn nhiều.

Bên cạnh đó, hệ thống thương vụ Việt Nam ở các nước có thể làm cầu nối cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng sang các nước thông qua các hoạt động nghiên cứu, thăm dò thị trường. Hoặc tạo ra những sân chơi cho doanh nghiệp trong nước giao lưu với nhau và giao lưu với các doanh nghiệp nước ngoài để tìm kiếm cơ hội. Khi nhà nước làm “bệ đỡ” thì cơ hội cho doanh nghiệp vươn ra thế giới cũng sẽ lớn hơn rất nhiều.
– Xin cảm ơn ông!

Trích báo Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam 04/12/2017